Menu

Các Tính Năng Chính Trên Đồng Hồ Phi Công (Pilot Watch)

Trong khi chúng ta có một tiêu chuẩn chính thức xác định các tính năng đồng hồ phù hợp cho lặn biển (ISO 6425), nhưng lại không có định nghĩa hoặc tiêu chuẩn nào tồn tại (ít nhất là một tiêu chuẩn sẽ được sử dụng trong toàn ngành) cho một loại đồng hồ phổ biến khác: đồng hồ phi công. Mỗi thương hiệu đều có tầm nhìn riêng về đồng hồ phi công, tùy thuộc vào nhu cầu của người đeo. Tuy nhiên, có một số yếu tố quan trọng tách những chiếc đồng hồ này ra khỏi số đông.

 

https://dongho-citizen.com/kham-pha-chiec-dong-ho-citizen-at8113-12h-sang-trong-lich-lam

https://dongho-citizen.com/doi-dieu-can-biet-ve-citizen-va-su-ra-doi-cua-dong-ho-citizen-bi5002-06e

https://dongho-citizen.com/tim-hieu-cach-chinh-dong-ho-citizen-eco-drive-lich-van-nien

 

 

Đồng hồ Pilot cực kỳ phổ biến, được đánh giá cao về tính thẩm mỹ thực dụng và tính dễ đọc. Ngày nay, đồng hồ pilot được định vị là một chiếc thời trang hơn là đồng hồ công cụ như thời gian đầu. Đồng hồ phi công, giống như đồng hồ lặn, được sinh ra từ sự cần thiết. Chiếc đồng hồ phi công đầu tiên là chiếc do Louis Cartier tạo ra cho bạn của ông –  người phi công bảnh bao Alberto Santos-Dumont để ông có thể tính toán giờ bay. Khác xa so với đồng hồ quân sự giữa thế kỷ 20, thông số kỹ thuật rất cơ bản của nó đã định hình thiết kế và tính năng của nhiều đồng hồ phi công hiện đại.

Một ví dụ về đồng hồ bấm giờ quân đội Breguet Type 20 số hiệu 4100, thế hệ đầu tiên. Ví dụ trên là một trong chuỗi 500 chiếc đồng hồ được ủy nhiệm đặc biệt cho các phi công của Hạm đội Không quân Pháp năm 1958 và được giao vào tháng 1 năm 1960.

Lực lượng quân sự không nhất thiết phải trung thành với một thương hiệu. Các đơn vị quân đội như Aéronavale của Pháp, Bộ Quốc phòng Anh, Luftwaffe của Đức hay Aeronautica Militare của Ý thường sử dụng một số nhà sản xuất khác nhau để sản xuất đồng hồ theo thông số kỹ thuật chính xác. Các thông số kỹ thuật này đã sinh ra các mô hình huyền thoại: đồng hồ bấm giờ Type 20 và 21, dòng Mark, B-Uhren, v.v.

Phi công người Đức đeo những chiếc Hanhart

Thiết bị trong buồng lái

Những chiếc đồng hồ này (Beobachtungsuhren hoặc B-Urh của Đức) rất lớn, lên đến 55mm. Kích thước này để phù hợp với bộ máy lên cót tay lớn bên trong, bộ máy này thường được sử dụng trong đồng hồ bỏ túi, nhưng B-Uhr luôn luôn là một chiếc đồng hồ đeo tay. Mỗi chiếc đều sử dụng một lò xo cân bằng Breguet. Bên trong, bộ máy được bao quanh bởi một lồng sắt mềm, làm cho B-Uhr chống từ tính – một điều bắt buộc đối với hàng không. Để khắc phục sự khác biệt về thời gian, các bộ máy có tính năng hacking-stop – dừng kim giây khi rút núm vặn, phần núm vặn có kích cỡ to với hình dáng như viên kim cương hoặc củ hành tây để người đeo dễ dàng điều chỉnh ngay cả khi đang đeo găng tay. Một dây đeo bằng da rất dài, có đinh tán đôi, đủ dài để đeo vòng qua tay áo khoác da.

Chiếc IWC B-Uhr vintage nguyên bản sử dụng bộ máy Calibre 52 T.S.C. (mã tham chiếu IW431).

Các thông số kỹ thuật của B-Uhr nói lên tất cả. Đồng hồ phi công phải đủ lớn để đọc khi bay. Ngoài ra, để dễ đọc, mặt số càng tương phản và phát sáng càng tốt (mặt số màu đen mờ với các chữ số và điểm chỉ giờ lớn, tất cả được sơn bằng vật liệu phóng xạ). Vận hành đồng hồ cũng được thực hiện đơn giản nhất có thể để tránh lỗi. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, độ chính xác là tối quan trọng và có tính đến các điều kiện sử dụng nghiêm ngặt, lý tưởng nhất là chúng có tính năng bảo vệ chống va đập, từ trường và giảm áp đột ngột (với lớp kính được bảo vệ chống lại mọi sự dịch chuyển).

Một chiếc IWC Mark XI cổ điển (có thể đã được thử nghiệm tại hiện trường), nguồn cảm hứng cho hầu hết các đồng hồ phi công IWC Pilot.

Chúng tôi thường nhận được câu hỏi về lý do đằng sau một số chi tiết nhất định được tìm thấy trên đồng hồ Pilot, đó là lý do tại sao chúng tôi nghĩ đến việc cung cấp cho các bạn một danh sách (không đầy đủ) các tính năng thường thấy trên đồng hồ đeo tay phi công.

Hình tam giác định hướng

Sự tương phản, mặt số dễ đọc luôn là một tính năng đặc biệt của đồng hồ phi công. Mặt số của chúng thường được tinh giản xuống mức tối thiểu, với các chỉ dẫn và kim phát quang nổi bật, cũng như các chữ số Ả Rập có thể được đọc dễ dàng hơn.

Hình tam giác ở vị trí 12 giờ, một tam giác thẳng đứng cân bằng phát quang với hai dấu chấm ở hai bên (đối với đồng hồ lấy cảm hứng từ B-Uhr), cho phép phi công tìm ra ngay dấu hiệu 12 giờ liên quan đến hướng thẳng đứng của mặt số, và do đó để đọc nhanh thời gian, cả ban ngày và ban đêm.

Flyback Chronograph

Được các phi công đánh giá cao vì nó giúp tiết kiệm thời gian khi ghi lại nhiều lần liên tiếp, tính năng bấm giờ flyback (còn được gọi là retour-en-vol trong tiếng Pháp) có thể được trả về 0 và khởi động lại ngay lập tức chỉ bằng một nút nhấn. Thay vì trình tự dừng-khởi động-khởi động lại truyền thống, cần 3 thao tác (nhấn 3 lần), Flyback thực hiện tất cả các bước chỉ bằng cách nhấn nút ấn thiết lập lại một lần. Việc thiết lập lại nhanh như vậy đã giúp điều hướng và tìm kiếm lưới, cho phép phi công chuyển đổi ngay trên đường bay.

Trên hình đây là hai ví dụ về đồng hồ phi công nổi tiếng với chức năng flyback. Bên trái là Breguet Type XX 3800ST, phiên bản hiện đại của chiếc đồng hồ được Hải quân Pháp giao cho Breguet trong những năm 1950 và 1960. Bên phải là một chiếc Zenith Pilot Cronometro Tipo CP-2 Flyback, lấy cảm hứng từ Zenith Cronometro Tipo CP-2 do Aeronautica Militare Italiana ủy quyền thông qua nhà bán lẻ La Mã A. Cairelli. Cả hai chiếc đồng hồ đều có cơ chế cụ thể này, cũng như các mẫu cổ điển cơ bản mà chúng lấy cảm hứng.

Vành bezel với điểm đánh dấu màu đỏ

Điểm đánh dấu màu đỏ được áp dụng trên bezel xoay của đồng hồ Pilot có thể được sử dụng làm khung đếm ngược hoặc đếm xuôi để theo dõi điều hướng hoặc ném bom (những chiếc đồng hồ này suy cho cùng vẫn là các công cụ quân sự). Các phi công đã dựa vào bản đồ để xác định thời gian họ sẽ đến các mốc nhất định. Xoay điểm đánh dấu màu đỏ ở kim phút, họ có thể nhanh chóng đọc được thời gian đã trôi qua. Các rãnh khoét trên khung cho phép vặn bezel một cách chính xác, chống trơn trượt.

Bên trên là hai ví dụ về những chiếc đồng hồ phi công cổ điển, ban hành với mục đích quân sự, với bezels khắc rãnh và có dấu đỏ. Bên trái là đồng hồ bấm giờ Hanhart những năm 1930 với thang đo tachymeter (đo tốc độ trung bình) và telemeter (đo trắc viễn hoặc đo khoảng cách) trên mặt số. Bên phải là một chiếc đồng hồ Tutima Glashütte Fliegerchronograph có một dấu đỏ trên vành bezel.

Núm vặn hình nón hoặc củ hành tây

Trong những ngày đầu của ngành hàng không, các phi công đã bay trong buồng lái không được làm ấm. Vì phải chịu đựng cái lạnh dữ dội, họ được trang bị găng tay dày để tránh tay bị đóng băng. Một núm vặn nổi bật là một tính năng quan trọng để vận hành đồng hồ dễ dàng, ngay cả với bàn tay đeo găng. Đây là lý do tại sao hầu hết các đồng hồ Pilot được trang bị núm vặn quá khổ (được gọi là đồng hồ “Big Crown”), núm vặn được thiết kế xoay quanh 1 trong 2 hình dạng: củ hành tây (tròn) hoặc kim cương (hình nón).

Hình trên, hai chiếc đồng hồ phi công hiện đại nhưng lấy cảm hứng từ vintage. Zenith đã chọn cho mình chiếc núm hành tây tròn tròn (giống như chiếc đồng hồ đeo tay phi công cổ của hãng) trong khi IWC dùng chiếc vương miện hình kim cương hình nón nhọn, (lấy cảm hứng từ những chiếc được tìm thấy trên B-Uhr).

Bộ hẹn giờ bom cũng có chức năng ghi / kích hoạt chức năng đếm ngược cũng có thể được vận hành trong khi đeo găng tay.

Lồng sắt mềm (Soft Iron cage)

Đồng hồ cơ khí sẽ gặp nguy hiểm khi tiếp xúc với từ trường. Do đó, việc bảo vệ chống lại ảnh hưởng tiêu cực này là cần thiết cho đồng hồ công cụ đa năng, nhưng thậm chí việc bảo vệ này còn quan trọng hơn khi nói đến đồng hồ phi công, vì buồng lái là một trong những môi trường từ tính nhất mà đồng hồ có thể gặp phải. Theo truyền thống, việc chống từ tính đã đạt được bằng cách sử dụng nguyên tắc của lồng Faraday: một lồng sắt mềm bên trong bao quanh bộ máy và bảo vệ nó chống lại từ trường. Chẳng hạn, thông số kỹ thuật của đồng hồ Mark XI, được ký hợp đồng với IWC và Jaeger-LeCoultre, yêu cầu sử dụng mặt số bằng sắt mềm.

Mặt cắt của một chiếc đồng hồ được trang bị một lồng sắt mềm.

Ngày nay, với sự ra đời của các vật liệu chống từ tính, đồng hồ phi công hiện đại ngày càng ít được trang bị các lồng nặng, tốn không gian như vậy. Các thành phần bộ máy của chúng, được chế tạo bằng silicon hoặc hợp kim chống từ, vốn đã được bảo vệ chống lại từ trường.

Khung bezel có thước đo

Khung bezel có thước đo dạng trượt, một phát minh Breitling cho đồng hồ Chronomat của hãng, là một máy tính cơ học cho các phi công – một loại máy tính mini của thời đại tiền kỹ thuật số – cho phép thực hiện tất cả các loại tính toán trên máy bay. Nó dựa trên thang đo cố định trên mặt số và thang đo di động thứ hai trên khung hai chiều. Khung xoay và thang logarit được sử dụng bởi Breitling có thể được sử dụng để xác định mức tiêu thụ nhiên liệu, tốc độ, khoảng cách, thời gian bay, chuyển đổi đơn vị…

Góc giờ (Hour Angle)

Chức năng hiếm có này nhằm mục đích giúp một phi công xác định vị trí địa lý của mình. Charles A. Lindbergh đã hoàn thiện hệ thống là di sản củaThuyền trưởng P.V.H. Weems và phát triển đồng hồ Góc giờ với Longines. Đồng bộ hoàn hảo với tiếng bíp phút phát ra từ tín hiệu thời gian radio, nó cho phép tính toán kinh độ dựa trên góc giờ giữa GMT và giờ mặt trời thực (true solar time). (Để được giải thích chi tiết, bạn có thể xem video của Longines tại đây)

Chiếc đồng hồ Longines Hour-Angle nguyên bản làm cho Charles A. Lindbergh.

Dây đeo dài có đinh tán

Điển hình của Beobachtungsuhren (đồng hồ quan sát) của Đức, dây da bê dài có đinh tán được sử dụng để một phi công có thể đeo nó trên tay áo khoác bay. Các đinh tán nằm ở vị trí đó để đảm bảo rằng vòng đeo tay được gắn chắc chắn vào đồng hồ (vì đồng hồ dùng các thanh springbar cố định, không phải loại tháo rời được như đồng hồ thông thường) – như đã thấy ở trên trên Đồng hồ Longines góc giờ Lindbergh.

Chỉ báo GMT

Một chức năng phi quân sự hiện đại hơn thường thấy trên đồng hồ phi công. Dấu hiệu của nhiều múi giờ là một tính năng hữu ích cho bất kỳ ai đi qua các múi giờ khác nhau, bao gồm cả phi công. Rolex GMT Master, được phát hành lần đầu tiên vào giữa những năm 1950, là nguyên mẫu của đồng hồ GMT. Nó được thiết kế với Pan American Airways để trang bị cho phi hành đoàn của họ – là thường dân, nhưng vẫn là phi công. GMT (hoặc múi giờ thứ hai) được hiển thị bằng cách sử dụng vòng quay giờ bổ sung trên thang đo 24 giờ và được đọc trên khung bezel hai tông màu hiển thị ngày và đêm.

Mẫu Rolex GMT – Master II có vành bezel màu xanh và đỏ, thường được gọi với cái tên Rolex Pepsi

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *